Bản in     Gởi bài viết  
BÀN VỀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY MÔN NGỮ VĂN Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG HIỆN NAY

 
(Bài đăng trên tạp chí Dạy và Học ngày nay, Kì 2- 3/2019)

     I. PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY MÔN NGỮ VĂN
     Muốn xác lập hệ thống các phương pháp giảng dạy ngữ văn cần xác định nội dung môn học, xác định các hoạt động cơ bản để đạt được kết quả của môn học, để xác định các phương pháp cụ thể đặc thù của bộ môn. Phương pháp giảng dạy ngữ văn phụ thuộc vào đặc trưng của bộ môn.
     1. Đặc trưng của môn học ngữ văn 
     Môn ngữ văn là môn học được tổ chức từ các bộ môn cũ theo tư tưởng tích hợp. Tích hợp đây hiểu theo nghĩa là liên kết tri thức để chúng thúc đẩy nhau tạo thành tri thức mới. Tích hợp ngôn ngữ với văn tự (chữ viết), ngôn ngữ với bài văn (văn bản), ngôn ngữ với văn học, ngôn ngữ với văn hoá, ngôn ngữ nói với ngôn ngữ viết, ngôn ngữ với lời nói. Tích hợp các phương diện ấy mới nâng cao năng lực ngôn ngữ và văn học cho sinh viên (SV). Hai tính chất của ngữ văn: tính công cụ, tính nhân văn. Tính công cụ thể hiện ở yêu cầu dạy cho SV năng lực sử dụng ngữ văn như một công cụ giao tiếp, bao gồm các kỹ năng nghe – nói – đọc – viết. Nghe gồm năng lực chú ý, nghe hiểu bài giảng, lời phát biểu, lời thảo luận… Nói gồm năng lực phát biểu trên lớp, thảo luận, phỏng vấn, trả lời câu hỏi, kể chuyện thuyết minh vấn đề… Đọc bao gồm đọc văn học và đọc các loại văn khác. Viết bao gồm năng lực viết các văn bản nghị luận xã hội, nghị luận văn học, viết bản tóm tắt, văn bản thuyết minh… Các tính chất khác của môn ngữ văn: tính tổng hợp, tính thực tiễn, tính tri thức, tính thẩm mĩ, tính xã hội.
     Theo đặc trưng bộ môn ngữ văn thì các hoạt động của nó chủ yếu chủ thể SV phải thực hiện để có được tri thức và năng lực tương ứng là nghe, nói, đọc, viết, mà chủ yếu là đọc (nghe) và viết (nói), cụ thể là đọc (nghe) văn và làm văn (viết và nói). Hoạt động giảng của giảng viên (GV) là một khâu quan trọng trong quy trình giảng dạy môn ngữ văn.
     2. Dạy đọc hiểu văn bản văn học
    Việc giảng dạy tác phẩm, đoạn trích văn học, xét về thực chất không phải là giảng văn, mà chính là dạy đọc văn. Đọc văn là quá trình hoạt động tâm lí nhằm nắm bắt ý nghĩa của văn bản, vì thế đó là hoạt động đọc hiểu văn bản. Đọc văn bao gồm các phương diện đọc thành tiếng (đọc chính âm, đọc đúng nghĩa) và diễn cảm. Ngoài ra còn có đọc nhanh, đọc lướt và đọc thầm, đọc chậm, đọc kĩ. Đọc – hiểu văn bản văn học là chủ trương được thực hiện từ những bậc học trước đây. Đọc và viết, nói và nghe là các hoạt động cơ bản của SV trong môn học ngữ văn. Các hoạt động này phải được giảng viên tổ chức cho SV thực hiện trên lớp và  trong các hoạt động học tập.
     Dạy đọc hiểu văn bản văn học như thế nào lại phải có hiểu biết về văn bản văn học và quy luật tiếp nhận văn học. Về văn bản văn học, trước nay thịnh hành quan niệm xem văn bản văn học là sản phẩm có sẳn ý nghĩa do tác giả, nhà văn cung cấp rồi, người đọc chỉ cần có khiếu thẩm mĩ là nắm bắt được ý nghĩa đó. Thực ra không phải vậy. Lí thuyết tiếp nhận cho biết, văn bản văn học chỉ là một cấu trúc mời gọi, nó chỉ cung cấp cài biểu đạt, còn cái được biểu đạt thì bỏ trống hoặc để mơ hồ cho người đọc tự xác định. Chúng ta đọc kĩ lại bất cứ văn bản nào đều thấy tác giả hầu như chỉ cung cấp cái biểu đạt. Kể một câu chuyện, nhà văn cũng chỉ kể các nhân vật và sự kiện, số phận, còn ý nghĩa thế nào thì để cho người đọc thể nghiệm. Một bài thơ nhà thơ chỉ cho biết cảm xúc của nhà thơ còn ý nghĩa ra sao thì tuỳ người đọc suy đoán. Như thế hoạt động đọc do người đọc làm chủ, phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, dựa vào ngữ cảnh trong văn bản và hoàn cảnh phát ngôn (viết) mà tìm ra ý nghĩa. Hoạt động tìm ý nghĩa này về thực chất là một quá trình kiến tạo ý nghĩa, một quá trình hoạt động đầy những thử và sai, loại bỏ cái sai, dần dần xác lập cái đúng. Một thời gian dài chúng ta thường cho rằng để hiểu tác phẩm thì phải tiến hành “phân tích tác phẩm”. Nhưng xét ra cách hiểu như thế là chưa đúng hẳn. Phân tích đòi hỏi phải có cái chỉnh thể, toàn vẹn rối mói phân tích, nhưng khi chưa hiêu văn bản thì có gì mà phân tích? Phân tích chỉ là  thao tác lí trí để kiểm tra kết quả kiến tạo ý nghĩa văn bản có đúng hay không mà thôi. Đọc hiểu văn bản đòi hỏi phải có trực giác, trực cảm, dự đoán cái ý nghĩa văn bản biểu đạt, sau đó phân tích kiểm chứng. Như thế, muốn dạy đọc hiêu thì trước hết phải biết đọc là như thế nào đã, không hiểu đọc là gì thì dạy đọc làm sao được?
     Như vậy đọc hiểu có ba khâu. Một là, đọc hiểu ngôn từ (chữ, từ, câu, đoạn, văn bản); hai là, đọc hiểu hình tượng như là cái biểu đạt và ba là hiểu ý nghia như là cái được biểu đạt. Dạy khâu một có những phương pháp khác với dạy khâu hai và trọng tâm dạy đọc văn là ở khâu ba. Nhiều trường hợp đọc hiểu cả mà vẫn không hiểu được ý nghĩa biểu đạt của văn bản. Ba khâu này không tách rời nhau, không hiểu khâu một thì không có khâu hai, không có khâu hai thì không có khâu ba. Đọc hiểu khâu ba phải vận dụng nhiều phương pháp đặc thù.
     3. Dạy tích cực – Học tích cực
     Trước hết GV phải biết thiết kế tổ chức SV thực hiện các hoạt động học tập ngữ văn nhằm phát triển tư duy ngôn ngữ, rèn luyện kỹ năng nghe – nói – đọc – viết, năng lực cảm thụ tác phẩm văn chương. Thường xuyên điều chỉnh các hoạt động học tập của SV, động viên và luôn tạo điều kiện cho các em tham gia tích cực, chủ động, sáng tạo trong quá trình tiếp nhận, giải mã và sản sinh văn bản. Song song đó, GV phải biết sử dụng và hướng dẫn SV sử dụng các thiết bị đồ dùng và ứng dụng CNTT để khai thác và vận dụng kiến thức ngữ văn có hiệu quả. Bằng mọi cách GV phải tạo điều kiện cho SV rèn luyện kỹ năng học tập tích cực, chủ động, hình thành thói quen vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn. Trong giảng dạy cần chú ý khai thác vốn kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng nghe – nói – đọc – viết mà SV đã có.
     Về phía SV đòi hỏi các em luôn tích cực suy nghĩ, chủ động tham gia các hoạt động học tập để tự khám phá và lĩnh hội kiến thức, rèn luyện thái độ và tình cảm đúng đắn. Có thể mạnh dạn trình bày và bảo vệ ý kiến, quan điểm cá nhân trước các vấn đề của bộ môn ngữ văn, tiếng Việt, tập làm văn. Đánh giá và tự đánh giá các quan điểm của bản thân, của nhóm. Tích cực sáng tạo trong vận dụng kiến thức, kỹ năng để giải quyết các tình huống và các vấn đề đặt ra từ thực tiễn học tập bộ môn. SV biết chủ động trong xây dựng và thực hiện kế hoạch học tập bộ môn ngữ văn phù hợp với năng lực và điều kiện học tập của cá nhân. Biết sưu tầm và tìm hiểu các tài liệu văn, tiếng Việt, tập làm văn bằng các hình thức khác nhau. Có ý thức sử dụng đồ dùng học tập và các ứng dụng của CNTT để học tập bộ môn ngữ văn có hiệu quả.
     Để đảm bảo tính khoa học cho các giờ học ngữ văn thì sự vận dụng các PPDH phải thực sự linh hoạt sáng tạo. Đổi mới cách dạy không có nghĩa là GV phải từ bỏ phương pháp giáo dục truyền thống để độc tôn cải tiến hoặc áp dụng một cách máy móc những PPDH từ các nước khác. Cũng không thể hiểu một cách chung chung về đổi mới PPDH là thầy giảng một nửa còn một nửa SV tự làm lấy. Sự vận dụng các PPDH phải đi từ cái SV đã có đến cái SV cần có, từ thực tiễn cuộc sống của SV tới kiến thức trong sách vở và quay trở về phục vụ cuộc sống. So với cách dạy truyền thống, sự vận dụng PPDH trong giờ ngữ văn đã có sự thay đổi cơ bản về chất: từ thông báo, tái hiện sang tổ chức cho SV tiếp nhận, cảm thụ; từ giảng dạy tính chất tĩnh sang tính chất động…
     4. Phương pháp giảng dạy đặc thù
     Các văn bản trong chương trình ngữ văn đều được chọn lọc rất kỹ và là những tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu, đặc sắc. Nó giúp SV nhận thức cuộc sống, đưa đến những bài học, những cảm xúc thẩm mỹ cao đẹp, sâu lắng trong tâm hồn và tình cảm con người. Những điều này lại phụ thuộc vào bề dày vốn sống, tri thức kinh nghiệm sống của mỗi cá nhân. Do vậy tiếp nhận văn bản là một hệ thống mở và kết quả tiếp nhận ở mỗi SV có thể khác nhau, thậm chí có nhiều mới lạ chưa hẳn trùng khớp với dự kiến của GV. Dạy văn thực chất là giúp cho SV biến tác phẩm của nhà văn thành tác phẩm của mình. Chính vì thế đổi mới phương pháp giagnr dạy còn có nghĩa là tôn trọng và đề cao những tìm tòi, khám phá, cảm thụ phân tích văn bản tích cực của SV. Đây cũng là một biểu hiện của tính cá thể hóa và sáng tạo trong tiếp nhận văn bản.
     Phương pháp đọc sáng tạo: Đây là phương pháp rất quan trọng đối với hoạt động tiếp nhận văn bản bao gồm cả đọc, hiểu và cảm thụ. Hoạt động đọc sáng tạo không chỉ là đọc thuần túy mà bao gồm cả sự tổ chức hướng dẫn SV đọc có vận động kết hợp tư duy logic với tư duy hình tượng, giọng đọc và điệu bộ.
     Phương pháp dùng lời có nghệ thuật (còn gọi là phương pháp diễn giảng, bình giảng, truyền thụ): Là cách giảng dạy truyền thống theo mô hình truyền thông tin một chiều, được sử dụng trong các giờ giảng dạy tác phẩm văn chương hay cung cấp kiến thức mới.
     Phương pháp vấn đáp gợi tìm: Là phương pháp được hình thành trên cơ sở của quá trình tương tác giữa GV và SV thông qua việc GV và SV đặt ra những câu hỏi và tìm ra câu trả lời tương ứng về một chủ đề nhất định.
     ii. GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI GIẢNG DẠY MÔN NGỮ VĂN
     Mỗi phương pháp giảng dạy trong uy trình dạy học môn học đề có những mặttích cực và hạn chế nhất định, không có phương pháp tối ưu. Để góp phần đổi mới có hiệu quả phương pháp giảng dạy môn ngữ văn ở các trường đại học, cao đẳng hiện nay cần thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:
     Một là, chú trọng hoàn thiện nội dung, chương trình môn học
     Nội dung, chương trình môn học là cơ sở để người dạy sử dụng hình thức, phương pháp, phương tiện giảng dạy phù hợp; đồng thời là hàm lượng tri thức cần trang bị cho người học. Để thống nhất nội dung giúp cho người dạy, người học có phương pháp truyền thụ, lĩnh hội được tốt hơn, bộ môn chuyên ngành ở các nhà trường cần lựa chọn, biên soạn giáo trình môn học phải trên cơ sở tham khảo ý kiến chuyên gia của chuyên ngành để xác định đúng hướng, đúng phạm vi bộ môn, bảo đảm trang bị cho người học những kiến thức cần thiết, vừa đủ để làm cơ sở vận dụng nghiên cứu, tiếp cận tri thức chuyên ngành. Trong từng chủ đề cần xác định đúng mục đích, yêu cầu, phạm vi nội dung, đối tượng giảng dạy. 
     Hai là, tích cực đổi mới hình thức phương pháp dạy và học 
     Đổi mới hình thức, phương pháp dạy, học bộ môn ngữ văn đòi hỏi đội ngũ giảng viên cần lựa chọn phương pháp giảng dạy phù hợp với từng chủ đề – từng loại hình nghệ thuật, đặc biệt coi trọng phương pháp trực quan; khai thác các phương tiện giảng dạy hiện đại. Cơ quan chức năng cần bảo đảm tốt cơ sở vật chất cho quá trình dạy và học để khắc phục tình trạng dạy chay, học chay. Kết hợp hình thức lên lớp giảng bài, xêmina với các hình thức khác như: xem băng hình học cụ, tham quan bảo tàng, khu di tích văn hoá…; phát huy tích cực, sáng tạo của người học; thực hiện tốt phương châm: lý luận gắn liền với thực tiễn, học đi đôi với hành. 
     Ba là, làm tốt việc xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên
     Từ đặc thù của môn học đòi hỏi giảng viên phải có năng khiếu và sự am hiểu nghệ thuật. Thực tế hiện nay đội ngũ giảng viên đảm nhiệm giảng dạy bộ môn ngữ văn nhưng sự hiểu biết và năng khiếu sáng tạo còn những hạn chế nhất định. Do vậy, để nâng cao chất lượng giảng dạy môn học, đòi hỏi khâu tuyển chọn đội ngũ giảng viên phải lấy từ nhiều nguồn khác nhau, đồng thời thường xuyên coi trọng việc bồi dưỡng cho đội ngũ này có đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của bộ môn. Căn cứ vào khả năng của từng giảng viên để phân công giảng dạy phù hợp với từng chủ đề. Việc bồi dưỡng giảng viên cần kết hợp giữa tự học, tự nghiên cứu của cá nhân với mời các giảng viên ở các trường nghệ thuật, các nghệ sĩ về bồi dưỡng chuyên môn, hướng dẫn, nói chuyện về các loại hình nghệ thuật hoặc gửi đội ngũ giảng viên đến các trường nghệ thuật để học tập, dự giảng… Tổ, bộ môn thường xuyên làm tốt các khâu: thông qua bài giảng, kiểm tra giảng, sinh hoạt chuyên đề, xêmina khoa học… trên cơ sở đó thống nhất nội dung, nâng cao trình độ, năng lực, phương pháp sư phạm cho đội ngũ giảng viên.
     Bốn là, tạo môi trường thuận lợi để  người  học  nắm  vững  nội  dung, vận dụng tốt kiến thức đã học vào hoạt động thực tiễn
     Khác với các môn học lý luận, nếu người học chỉ lĩnh hội kiến thức theo quy trình học tập: nghe, ghi, nghiên cứu, trao đổi, thảo luận… thì chưa đủ, bộ môn ngữ văn cần phải có môi trường để nâng cao sự hiểu biết về văn học nghệ thuật, rèn luyện năng khiếu, vận dụng thực tiễn. Bởi vậy, cần khai thác và thực hiện tốt chức năng của các thiết chế văn hoá như: thư viện, bảo tàng, câu lạc bộ… Lãnh đạo các khoa, bộ môn cần phối hợp với cơ quan chức năng, chủ động tổ chức tốt các hoạt động sáng tác, biểu diễn, thưởng thức, đánh giá tác phẩm nghệ thuật như: đọc tác phẩm văn học, tổ chức sáng tác thơ, ca, kịch ngắn, bình thơ, xem truyền hình… thông qua đó củng cố kiến thức, bồi dưỡng năng lực sáng tạo của SV. Mỗi SV chuyên ngành cần xác định đây là môn học mang tính đặc thù nên trong quá trình lĩnh hội, củng cố kiến thức không chỉ nghiên cứu, trao đổi mà cần tích cực tham gia hoạt động ngoại khoá, cọ sát thực tiễn; nắm vững các hình thức hoạt động làm cơ sở vận dụng, tổ chức tốt hoạt động giảng dạy chuyên ngành ở các nhà trường.
     TÀI LIỆU THAM KHẢO
     1. Phan Trọng Luận (1977), Phân tích tác phẩm văn học trong nhà trường, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
     2. Mai Thị Kiều Phượng (2009), Giáo trình phương pháp dạy và học làm văn, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
     3. Nguyễn Văn Tuấn (Chủ biên, 2007), Giáo trình phương pháp giảng dạy, Trường ĐH SPKT TP. Hồ Chí Minh.
ThS. ĐOÀN THỊ THU HẰNG
Phòng TCCB-CTHSSV
[Trở về]
Các tin đã đăng
  • CÁCH TẠO CÔNG CỤ TUY BIẾN TRONG GSP 
  • NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY VÀ HỌC MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGÔ GIA TỰ BẮC GIANG 
  • CHA MẸ CẦN PHẢI LÀM GÌ ĐỂ GIÁO DỤC TÌNH BẠN TRẺ VỊ THÀNH NIÊN 
  • VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH “HỌC ĐI ĐÔI VỚI HÀNH” TRONG DẠY VÀ HỌC Ở CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC HIỆN NAY 
  • MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ QUAN ĐIỂM LẤY HỌC LÀM TRUNG TÂM 
  • MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN TOÁN Ở BẬC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HIỆN NAY 
  • Một số nhiệm vụ và định hướng giải pháp cơ bản nhằm đáp ứng tốt việc thay sách giáo khoa, thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông mới (cấp tiểu học và trung học cơ sở) của Trường CĐ Ngô Gia Tự Bắc Giang